Dịch hại và biện pháp phòng chống

 

Cây chè

1. Tổng quan

Cây chè là cây công nghiệp dài ngày, có chu kỳ kinh tế dài, một lần trồng cho thu hoạch nhiều năm, chăm sóc thu hái đúng quy trình có thể cho thu hoạch hàng trăm năm. Trong sản phẩm của chè có chứa trên 90 hợp chất hữu cơ và là loại đồ uống bổ dưỡng và có giá trị sinh học cao nên sản phẩm chè được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. 

1.1 Tình hình gieo trồng

Cây chè được trồng tại 63 nước trên thế giới với tổng diện tích 2.550 ngàn ha, sản lượng đạt trên 4,210 triệu tấn. Tuy nhiên diện tích và sản lượng tập trung chủ yếu ở một số quốc gia có điều kiện tự nhiên và khí hậu thích hợp. Các nước sản xuất chè nhiều gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Kenya, Việt Nam, Indonesia, Gruzia, Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại Việt Nam, cây chè có một lịch sử lâu đời. Người dân ở các vùng nông thôn và đô thị đã có thói quen uống chè từ xa xưa. Do đất đai và khí hậu thích hợp với cây chè nên Việt Nam là một trong bảy vùng trồng chè cổ xưa nhất thế giới. Hiện nay diện tích trồng chè nước ta đạt khoảng 129.400 ha (trồng tại 25 tỉnh, thành trong cả nước), trong đó diện tích chè kinh doanh khoảng 110.700 ha. Năng suất chè bình quân hiện nay đạt khoảng 7,3  tấn chè búp tươi/ ha, sản lượng búp tươI cả nước đạt trên dưới 824.000 tấn. Cây chè dễ trồng, cho thu nhập kinh tế khá cao, ổn định và là cây góp phần quan trọng vào việc xoá đói giảm nghèo cho nhân dân các vùng trung du, miền núi phía Bắc, khu 4, miền Trung và Tây Nguyên. 

Trong tổng số 25 tỉnh, thành trồng chè trong cả nước; thì 15 tỉnh miền núi, trung du phía Bắc trồng khoảng 91.400 ha chiếm 70,6%, các tỉnh Tây Nguyên (4 tỉnh) trồng khoảng 25.000 ha chiếm  21,8%, các tỉnh vùng khu 4 cũ (4 tỉnh) trồng khoảng 9.100 ha chiếm 7% và các tỉnh duyên hải miền Trung (2 tỉnh) trồng khoảng 600 ha chiếm 0,5% tổng diện tích trồng chè của cả nước. Các tỉnh có diện tích chè lớn là Lâm Đồng 23.600 ha, Hà Giang 18.900 ha, Thái Nguyên 17.700 ha, Phú Thọ 16.400 ha.

Thời vụ và kỹ thuật thu hái chè hàng năm thường được tiến hành như sau: Vụ Xuân thu tháng 3-4, hái chừa lá cá và 2 lá thật, tạo tán bằng; Vụ Hè Thu thu tháng 5-10 (là vụ có năng xuất cao nhất trong năm), hái chừa lá cá và 1 lá thật, tạo tán bằng; Vụ Đông thu tháng 11-12. Tháng 11 hái chừa 1 lá cá, tháng 12 hái cả lá cá. Tuy nhiên việc chừa nhiều hay ít còn tùy thuộc vào tình trạng sinh trưởng của cây chè nếu lô chè sinh trưởng tốt chừa ít, sinh trưởng xấu chừa nhiều…

1.2 Kỹ thuật canh tác

Cây chè có 2 thời kỳ phát triển chính là kiến thiết cơ bản và kinh doanh. Để cây chè phát triển tốt và đạt hiệu quả kinh tế cao, người trồng chè cần áp dụng Quy trình kỹ thuật chăm sóc đối với cây chè do cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp tại địa phương ban hành. Đối với Quy trình quản lý chăm sóc chè kinh doanh người trồng chè cần nắm vững kỹ thuật: đốn chè; hái chè; bón phân; giữ ẩm, tưới nước; phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại; cải tạo vườn chè suy thoái…

1.3 Dịch hại chính

Theo các tài liệu điều tra cơ bản, chúng ta đã xác định được 46 loài sâu hại, 5 loài nhện, 18 loài bệnh và tuyến trùng hại chè, chưa kể hàng chục loại cỏ dại hại chè. Trong các loài sâu, bệnh hại chè, có một số loài thường xuyên xuất hiện, gây hại làm giảm năng suất, chất lượng búp chè mà người trồng chè thường xuyên phải quan tâm. Để có thể dễ nhận biết, các loại dịch hại chủ yếu được phân thành các nhóm gây hại tùy theo các bộ phận bị hại của cây như sau:

Nhóm sâu bệnh hại búp: 

Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabricius; nhện đỏ (Olygonychus coffeae Nietner), bọ xít muỗi (Helopeltis antonii Signoret; Helopeltis theivora Waterhouse), bọ cánh tơ (Physothrips setiventris Bagn), bệnh thối búp (Collectotrichum camellia Mass.),

Nhóm sâu bệnh hại lá: 

Nhiều loại thuộc bộ cánh vảy như sâu róm, bọ nẹt, sâu kèn, cùng nhóm nhện (nhóm nhện thường có hiện tượng bùng phát về số lượng nên nhiều khi gây hại nghiêm trọng), bệnh cháy xám lá (Pestalozia theae Sawada), bệnh cháy nâu lá (Collectotrichum camellia Mass.), bệnh phồng lá (Exobasidium vexans Mass.), 

Nhóm sâu bệnh hại rễ, cành: 

Chỉ có một số ít loài gây hại, nhưng quan trọng nhất là mối và dế hại chè con, sâu đục thân, mọt đục cành, bệnh khô cành, bệnh tuyến trùng, bệnh sùi cành (Bacterium gorlenko Viarum), bệnh chết loang (Rosellinia necatrix Berl), bệnh nấm tóc (Marasmius equicrinis Muell). Các loài sâu hại khác ghi nhận sự xuất hiện, gây hại không thường xuyên hoặc không đáng kể.

 

2. Bảo vệ tổng hợp

Việc phòng trừ các loại dịch hại trên chè có tác động rất lớn tới năng suất và phẩm chất sản phẩm chè. Nhiều sản phẩm chè không được người tiêu dùng chấp nhận do sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật. Việc áp dụng Quy trình phòng trừ dịch hại tổng hơp trên cây chè là xu thế chung hiện nay. Trong trường hợp phòng trừ dịch hại bằng thuốc hóa học cần được hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và tuân thủ nguyên tắc 4 đúng.

 

Bọ xít muỗi

1. Giới thiệu chung

Bọ xít muỗi (Helopetis theivora Wterh.) là một trong những dịch hại quan trọng trên cây chè ở nước ta hiện nay và nhiều nước trong khu vực. Bọ xít muỗi dùng vòi chích hút dịch tế bào của búp và lá non, làm búp, lá non biến dạng cong queo rồi khô đen, không đạt tiêu chuẩn thu hoạch, từ đó ảnh hưởng đến những lứa búp kế tiếp. Nếu nặng, cây chè sẽ còi cọc, sinh trưởng kém, năng suất và phẩm chất búp chè bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Ngoài cây chè còn thấy bọ xít muỗi sinh sống trên khá nhiều cây trồng khác như ổi, sim, mua, sồi, xoài, điều, ca cao, canh ki na, mít, cỏ lào, cỏ thài lài (rau trai)…nên việc phòng trừ chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn do chúng di chuyển từ những cây này sang phá hại búp chè Xuân mới ra sau lần đốn tỉa cành vào cuối năm, từ đó tích lũy số lượng gây hại các đợt búp kế tiếp.

1.1 Triệu chứng, mức độ hại

Cả trưởng thành và ấu trùng của bọ xít muỗi dùng vòi chích hút dịch tế bào của lá và búp chè, vết chích ban đầu chỉ là những chấm nhỏ trong như giọt dầu, sau đó dịch tề bào chỗ vết chích bị ô xy hóa nhanh chóng chuyển thành màu nâu đậm. Vết chích làm cho tế bào bị chết loang rộng dần thành hình tròn hoặc hơi bầu dục, kích thước vài mm. Số lượng và kích thước của vết chích nhiều hay ít, lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tuổi của bọ xít, tuổi của búp chè. Con ấu trùng thường tạo ra vết chích nhỏ, nhưng lại nhiều vết hơn con trưởng thành, vết chích ở búp non nhiều hơn ở búp già… Búp chè có nhiều vết chích sẽ bị cong queo, thui đen, không thu hoạch được. Bọ xít muỗi thường tập trung gây hại từng bụi, từng đám chè nhỏ.

Lá chè bị bọ xít muỗi gây hại

1.2 Nhận dạng

Con trưởng thành nhìn giống như con muỗi, dài trung bình khoảng 4-5mm, dài nhất tới 6,5-7 mm (con cái có thân dài hơn con đực), đầu màu nâu, mắt nâu đen, râu khá dài màu nâu (có khi tới 12 mm), bụng màu xanh lá mạ, trên lưng có một cái chùy mầu đen, nhìn giống như cái phễu.

Trứng hơi giống hình quả chuối tiêu, trên đầu có hai sợi lông dài không bằng nhau. Trứng được đẻ vào mô của cuộng chè và gân chính của búp chè, nhưng hai sợi lông lại nhô ra ngoài. Lúc mới đẻ có màu trắng trong, khi sắp nở chuyển dần sang màu da cam.

Khi mới nở, ấu trùng có màu vàng và nhiều lông, sau đó chuyển dần sang màu xanh ánh vàng, đã có chùy trên lưng. Ấu trùng thường sống theo nhóm 2-3 con trên một búp hoặc trên lá non gần búp.

Một số hình ảnh của bọ xít muỗi

 

(Nguồn Internet)

1.3 Sinh vật học

Bọ xít muỗi thích sống ở những nơi ẩm thấp, râm mát, những nương chè xanh tốt, rậm rạp. Những ngày trời âm u, đặc biệt là những ngày có mưa, bọ xít thường hoạt động nhiều và gây hại rất mạnh.

Vào mùa hè, những buổi trưa nắng nóng con trưởng thành thường ẩn nấp trong tán chè, chúng chỉ hoạt động nhiều vào lúc sáng sớm và chiều tối khi trời đã dịu mát, những ngày râm mát chúng thường hoạt động suốt ngày. Vào mùa đông chúng hoạt động chủ yếu vào buổi trưa và chiều, khi trời đã ấm áp trở lại.

Sau khi vũ hóa khoảng 2-6 ngày bọ xít muỗi bắt đầu bắt cặp giao phối, khoảng 2-3 ngày sau thì đẻ trứng, một con cái có thể đẻ 12-74 quả trứng, bọ xít trưởng thành sống khoảng 8-13 ngày.

Trứng đươc đẻ vào phần mô non của búp chè và gân chính của lá chè non, thời gian trứng từ 5-10 ngày.

Ấu trùng có 5 tuổi, thời gian ấu trùng khoảng 9-19 ngày.

Bọ xít muỗi có tập tính tự rơi khi bị động, vòng đời của chúng giao động từ 17-38 ngày.

1.4 Sự phát sinh phát triển

Ở các tỉnh phía Bắc mỗi năm bọ xít muỗi có nhiều lứa, nhưng thường tập trung vào tháng 7, 8 (hại rất nặng) và tháng 10, 11 (hại nặng).

Tại các tỉnh phía Nam, bọ xít muỗi cũng xuất hiện quanh năm, nhưng tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5-11, khi trời mát, ẩm độ cao và nhất là khi chè ra búp non.

Thời tiết thích hợp nhất cho bọ xít muỗi là nhiệt độ khoảng 20-29 độ C và ẩm độ trên 90%.

Thực tế đồng ruộng cho thấy, những đợt búp ra vào mùa Hè và mùa Thu thường bị bọ xít muỗi gây hại nhiều hơn những đợt búp ra vào mùa Đông. Chè trồng trong vườn và có bóng râm thường bị bọ xít gây hại nhiều hơn chè được trồng ở chỗ dãi nắng (trảng nắng). Ngoài ra, những nương chè còn nhỏ tuổi chưa đốn thường bị bọ xít gây hại nhẹ hơn những nương chè lớn tuổi đã được đốn nhiều lần. Chè trung du thường bị bọ xít hại nặng hơn các giống chè khác, nương chè nào càng được đầu tư thâm canh cao thì càng bị bọ xít gây hại nhiều hơn (do thức ăn tốt).

Để hạn chế tác hại của bọ xít muỗi, phải áp dụng kết hợp một cách đồng bộ và hợp lý những biện pháp trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp, sau đây là một số biện pháp chính:

 

2. Biện pháp canh tác

Thực hiện thật tốt các biện pháp về kỹ thuật canh tác, chăm sóc như bón phân đầy đủ và cân đối, tưới nước giữ ẩm gốc vào mùa khô, làm cỏ kịp thời, đốn tỉa tạo hình đúng kỹ thuật … để cây chè khoẻ mạnh có sức chống chịu và bù đắp được với tác hại của bọ xít.

Thường xuyên làm cỏ, phát quang bụi rậm và những cây ký chủ phụ của bọ xít xung quanh nương chè, để hạn chế nơi trú ngụ của bọ xít.

Không nên để chè quá lứa, phải hái kịp thời khi búp chè vừa đạt tiêu chuẩn để giảm thiểu thời gian nguồn thức ăn phù hợp cho bọ xít có mặt trên nương chè.

Nên hái chè nhanh, tập trung đối với mỗi lứa để loại bỏ trứng bọ xít muỗi đang tồn tại trên búp. Khi hái, cần hái hết các búp đã bị hại, đồng thời tích cực chăm sóc (bón phân, tưới nước, diệt cỏ dại tạo độ thông thoáng cho nương chè) để cây chè nhanh chóng ra chồi mới đồng đều.

Nên tiến hành đốn đau, đốn lửng các lô chè thường bị bọ xít muỗi hại nặng.

Những nương chè thường xuyên bị bọ xít gây hại nặng, không nên trồng cây che bóng quá nhiều.

Hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nên sử dụng thuốc sinh học hoặc thuốc có phổ tác động hẹp, thời gian cách ly ngắn và chỉ sử dụng thuốc khi mật độ bọ xít tăng nhanh để bảo vệ hệ thiên địch tự hiên trên nương chè và sức khỏe người sử dụng chè.

Thường xuyên kiểm tra nương chè để phát hiện sớm và phun thuốc phòng trừ kịp thời khi mật số bọ xít muỗi tăng nhanh, nhất là vào các cao điểm gây hại của bọ xít và những giai đoạn cây chè ra búp mới.

 

3. Biện pháp lợi dụng thiên địch

Trên nương chè có khá nhiều loài thiên địch của bọ xít muỗi như: các loài nhện bắt mồi, chuồn chuồn, bọ ngựa ăn thịt, một số loại kiến, bọ rùa... Những loài thiên địch này có thể tiêu diệt cả bọ xít trưởng thành và con ấu trùng. Trước khi phun thuốc phải điều tra kỹ mật số thiên địch và cân nhắc việc dùng thuốc sao cho ít ảnh hưởng nhất đến những loài thiên địch này.

 

4. Biện pháp thuốc BVTV

Sử dụng thuốc BVTV theo 4 đúng.

(Liên hệ với chúng tôi)