Alpha-cypermethrin được tổng hợp vào năm 1974. Trong thành phần của Alpha-cypermethrin có hai đồng phân độc nhất của Cypermethrin chính vì thế độ độc của nó cao hơn. Tỷ lệ hai đồng phân này khác nhau nó cũng quyết định độ độc của thuốc. Alpha Cypermethrin được sử dụng trên nhiều cây trồng như: cây có múi, dâu tây, tỏi tây, hành, bắp cải, xúp lơ dưa chuột, dưa hấu, cà tím, ớt, cà chua, rau diếp, các loại đậu ăn quả và ăn hột, khoai tây, ngô, lúa, chè,…

Alpha-cypermethrin sử dụng với liều lượng thấp 10 – 15g a.i/ha. Bởi vậy trên một số cây trồng dư lượng tồn dư ở mức rất thấp, thậm chí không phát hiện ra ngay trong ngày phun. Thí dụ dư lượng tồn dư trung bình trong ngày phun với lượng 10g a.i/ha là 0.01mg/kg đối với táo, mận, cam, ớt, dưa chuột, dưa bở, cà chua .

Trong cây trồng:

Người ta nhận thấy Alpha-cypermethrin chỉ có một lượng nhỏ hoạt chất được lưu dẫn vào trong cây trên cây bắp cải. Cả hai đồng phân Cis và trans (thành phần chính tạo ra Alpha-cypermethrin) giảm đến 44% (lá già) và 54% (lá non). Các đồng phân này có lẽ tác động bởi các phản ứng quang hóa dưới tác động của ánh sang mặt trời .

Trên cây lúa mỳ, dư lượng cao nhất của Alpha-cypermethrin có ở vỏ trấu và rơm (đây chính là phần tiếp nhận nhiều thuốc nhất khi phun). Khi bị tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời thì hoạt chất bị đồng phân hóa chỉ còn những thành phần thứ yếu như các este bị thủy phân hoặc các vòng benzene bị hydroxyl hóa .

Nếu áp dụng liều lượng 5 – 30 g a.i/ha phun cho nhiều loại cây trồng thì mức dư lượng ở nhiều nước là 0.05 – 1.0 mg/kg sản phẩm (Shell, 1984).

Trong năm 1983 ở Canada người ta phun Alpha-cypermethrin 10%EC 5 lần với thời gian cách ly là 7 ngày thì dư lượng của hoạt chất trong lá bắp là 0.38mg/kg. Tuy nhiên dư lượng trong hạt hoặc trong trong lõi ngô là 0.01mg/kg (Forbes & Cole, 1986). 

Trong không khí:

Người ta không phát hiện ra sự tồn tại của Alpha-cypermethrin trong không khí. Bởi vì, nó là hoạt chất rất khó bay hơi.

Trong nước:

Người ta phun Alpha Cypermethrin dạng EC với liều lượng 15h a.i/ha trên cánh đồng mà chạy dọc bện cạnh là một mương nước. Sau 7 ngày lượng Alpha-cypermethrin có trong bùn của mương chỉ còn 5g a.i/ha (tức là 30% lượng sử dụng trên cánh đồng). Còn lượng Alpha-cypermethrin trên lớp nước mặt của ruộng chỉ là 0.6 µg/lít tồn tại trong thời gian ngắn và sau đó giảm < 0.02 µg/lít trong khoảng 2 – 4 ngày. Người ta không phát hiện ra dư lượng của nó cách địa điểm phun khoảng 200m (Garforth & Woodbridge, 1984).

Trong đất:

Ở Anh người ta tiến hành phun Alpha-cypermethrin dạng EC với lượng 0.5 kg a.i/ha với những khoảng cách phun khác nhau. Trong năm thứ nhất ở lớp đất mặt 0 – 15cm ngay sau khi phun thì mức dư lượng là 0.07mg/kg đất. Sau 40 và 52 tuần sau phun mức dư lượng ở lớp đât 0 – 15 và 15 – 30cm là thấp hơn giới hạn cho phép tức là 0.01mg/kg (Forbes & Knight, 1983).

Năm thứ hai, dư lượng của hoạt chất có ở lớp đất 0 – 15cm sau khi phun là 0.19mg/kg. Sau đó giảm xuống 0.11mg/kg sau 21 tuần và < 0.01mg/kg sau 49 tuần. Còn những mẫu đất ở lớp đât 15 – 30cm thì không phát hiện thấy dư lượng sau 23 và 49 tuần (Forbes & Burden, 1984).

Còn sang năm thứ ba, mức dư lượng sau phun ở lớp đấy 0 – 15cm là 0.20mg/kg và giảm xuống 0,08 mg/kg sau 18 tuần và 0.01 mg/kg sau 52 tuần. Ở lớp đât 15 -30cm người ta không phát hiện ra dư lượng sau 32 và 52 tuần. Sau 3 năm người ta cũng không phát hiện ra sự tích tụ của Alpha-cypermethrin trên lớp đất mặt hoặc có một dẫn chứng nào kết luận hoạt chất bị rửa trôi xuống tầng đất sâu hơn (Forbes & Wales, 1985a).

Trên cánh đồng có luân canh các loại cây như lúa mỳ, bông, rau diếp và củ cải đường người ta phun Alpha-cypermethrin với lượng 1kg/ha. Người ta chỉ phát hiện ra dư lượng ở mức rất thấp và giảm dần sau 30, 60, 90 và 120 ngày.

Mức dư lượng tối đa (MRL) theo Codex (mg/kg):

Hành củ: 0.01; Các loại rau ăn củ: 0.01; Cà tím: 0.03; Tỏi tây: 0.05; Cà phê hạt: 0.05; Rau ăn quả, dưa chuột: 0.07;  Dâu tây: 0.07; Ớt: 0.01; Củ cải đường: 0.1; Cà chua: 0.2; Cây có múi: 0.3; Rau ăn lá: 0.7; Xoài: 0.7; Nhãn 1.0; Rau thập tự: 1; Gao: 2; Chè (xanh, đen): 15.