LÂM ĐỒNG - Với vùng trồng có nhiều hộ cùng tham gia một mã số, việc theo dõi và duy trì trách nhiệm của từng hộ gặp nhiều khó khăn.
Thống nhất cách làm trong vùng trồng
Duy trì mã số đặt ra yêu cầu tổ chức sản xuất giữa các hộ cùng tham gia vùng trồng. Trong khi đó, điều kiện vườn cây, khả năng đầu tư, lao động và tập quán canh tác của mỗi hộ có sự khác nhau. Khi điều kiện thời tiết, sinh vật gây hại thay đổi, việc tiếp nhận nhiều nguồn tư vấn có thể dẫn đến thực hiện các biện pháp kỹ thuật chưa thống nhất. Với vùng có nhiều hộ cùng tham gia một mã số, việc theo dõi và duy trì trách nhiệm của từng hộ cũng gặp khó khăn.

Thống nhất quy trình sản xuất giữa các hộ là yêu cầu để duy trì mã số vùng trồng. Ảnh: Nhật Tiến.
HTX Nông nghiệp Đạ M’ri, tỉnh Lâm Đồng hiện có 180 thành viên đang sản xuất gần 450 ha sầu riêng. HTX đã xây dựng quy trình, tổ chức tập huấn, hội thảo và thực hiện các mô hình thử nghiệm. Việc tổ chức sản xuất giữa các thành viên được đặt ra trong bối cảnh cách làm của các hộ hiện chưa đồng nhất.
“Nông dân sản xuất mỗi người một kiểu, không ai giống ai. Vấn đề đặt ra ở đây là tổ chức sản xuất như thế nào. HTX chúng tôi đã có quy trình, tập huấn, hội thảo, mô hình thử nghiệm, mục đích cuối cùng là tổ chức sản xuất theo hướng hữu cơ, bền vững”, ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Nông nghiệp Đạ M’ri chia sẻ.
Việc duy trì quy trình giữa các hộ cũng được đặt ra tại vùng nguyên liệu sầu riêng do Công ty TNHH Thương mại Sản xuất Long Thủy liên kết. Doanh nghiệp hiện liên kết hơn 850 ha sầu riêng, có 16 mã số vùng trồng trên diện tích 850 ha và 3 mã số cơ sở đóng gói được phía Trung Quốc phê duyệt.

Tính đến ngày 18/9/2026, Lâm Đồng có 547 mã số cơ sở đóng gói đã cấp và đang trình phê duyệt. Ảnh: Nhật Tiến.
Trong quá trình sản xuất, một bộ phận hộ dân chưa thực hiện đầy đủ quy trình chăm sóc, còn tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và chưa tuân thủ khuyến cáo của nhà sản xuất. Việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm chăm sóc, sử dụng vật tư nông nghiệp và xử lý những vấn đề phát sinh giữa các thành viên trong vùng trồng chưa được thực hiện thường xuyên. Điều này khiến việc phổ biến, nhân rộng những cách làm hiệu quả và thống nhất quy trình sản xuất giữa các hộ gặp không ít khó khăn.
Đến ngày 18/9/2026, Lâm Đồng có 1.611 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 54.298 ha. Trong đó, 1.094 mã phục vụ xuất khẩu đã được nước nhập khẩu phê duyệt với diện tích hơn 48.016 ha. Toàn tỉnh có 547 mã số cơ sở đóng gói đã cấp và đang trình phê duyệt.
Cùng với số lượng mã số đã được cấp, toàn tỉnh có 173 mã số vùng trồng với diện tích hơn 3.600 ha và 61 mã số cơ sở đóng gói bị đình chỉ hoặc thu hồi. Việc duy trì mã số chưa thật sự bền vững, hậu kiểm chưa theo kịp tốc độ cấp mới. Địa bàn vùng trồng lớn, nhiều hộ tham gia trong khi nhân lực kiểm tra, giám sát còn hạn chế.
Kết nối vùng trồng với thị trường
Sau khi được cấp mã số, nhiều nội dung tiếp tục phải được duy trì trong quá trình sản xuất, đóng gói và tiêu thụ. Trong đó có tổ chức sản xuất, hồ sơ, nhật ký, quản lý vật tư đầu vào, thu hoạch, giao nhận, phân lô, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và các yêu cầu của thị trường.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc Gia (bìa phải) thăm cơ sở đóng gói sầu riêng tại Lâm Đồng. Ảnh: Nhật Tiến.
Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết, việc cấp mã số vùng trồng hiện nay đã được đơn giản hóa về thủ tục. Tuy nhiên, để duy trì mã số, người sản xuất phải đáp ứng các yêu cầu của từng thị trường trong suốt quá trình sản xuất. Có thị trường yêu cầu mã số vùng trồng, có thị trường không. Ngay cả khi mã số đã được chấp nhận, nếu quá trình sản xuất không đáp ứng yêu cầu, thị trường nhập khẩu vẫn có thể thu hồi mã số.
“Bà con cần thực hiện các quy trình sản xuất an toàn, sản xuất theo tiêu chuẩn và hình thành vùng nguyên liệu đạt chuẩn để phục vụ các doanh nghiệp có thị trường, có khả năng xuất khẩu. Từ mã số vùng trồng đến thị trường quốc tế là cả một quá trình, được cấp mã mới chỉ đủ điều kiện để tham gia, còn nông sản có đáp ứng được tiêu chuẩn hay không phụ thuộc vào yêu cầu của các nước nhập khẩu”, ông Thanh nhấn mạnh.
Cùng với các yêu cầu trong quá trình sản xuất, liên kết chuỗi tại một số vùng trồng còn thiếu bền vững. Có trường hợp chủ mã số dừng liên kết dẫn đến mất mã của cả vùng, ảnh hưởng đến những hộ vẫn còn đủ điều kiện. Các thị trường nhập khẩu cũng thường xuyên thay đổi yêu cầu kỹ thuật và kiểm dịch thực vật.

Liên kết sản xuất lâu dài và tăng cường hậu kiểm là những giải pháp được đề xuất nhằm hạn chế tình trạng mã số vùng trồng bị đình chỉ, thu hồi. Ảnh: Nhật Tiến.
Để duy trì mã số, cơ quan chuyên môn đề xuất công khai tình trạng hoạt động của mã để các hộ tham gia vùng trồng nắm thông tin. Đồng thời, khuyến khích HTX đứng tên chủ mã và xây dựng hợp đồng liên kết dài hạn. Khi liên kết chấm dứt, cần thông báo và thực hiện chuyển giao chủ mã để phần diện tích còn đáp ứng điều kiện không bị mất mã. Công tác hậu kiểm cũng được đề xuất thực hiện theo mức độ rủi ro.
Cùng với việc kiểm soát nguồn nguyên liệu, yêu cầu kỹ thuật và kiểm dịch thực vật của các thị trường nhập khẩu thường xuyên thay đổi cũng đặt ra yêu cầu cập nhật trong quá trình duy trì mã số. Cơ quan chuyên môn đề xuất tăng cường hậu kiểm theo mức độ rủi ro, đồng thời duy trì thông tin về tình trạng hoạt động của mã số để các hộ tham gia vùng trồng nắm bắt.
Nhật Tiến